Xét nghiệm Strongyloides stercoralis

Thứ tư - 18/01/2017 15:24
Xét nghiệm Strongyloides stercoralis

Giun lươn sống ở ruột non nhưng cũng có thể sống ở ngoại cảnh. Trứng giun lươn hình bầu dục, có kích thước 50 - 58 x 30 - 34 mm.

Ấu trùng phát triển rất nhanh thành ấu trùng có thực quản hình ụ trong trứng và thoát vỏ ngay trong ruột, theo phân ra ngoài nên rất ít khi thấy trứng giun lươn trong phân.

Ấu trùng tiếp tục phát triển ở ngoại cảnh thành ấu trùng có thực quản hình trụ có khả năng xâm nhập qua da người hoặc sống tự do ở ngoại cảnh.

Ấu trùng giun lươn đẻ ra trong đất ẩm, ấm phát triển qua 3 giai đoạn. Dựa vào đường xâm nhập của ấu trùng di chuyển đến các vị trí cao hơn xuyên qua và đến tuần hoàn máu tính mạch vào tim.

Theo hệ tuần hoàn ấu trùng đi vào mao mạch phổi và phổi, chui lên phế quản, khí quản lên hầu, miệng dạ dày, ruột non nơi đó chúng phát triển thành giun trưởng thành và ăn các thức ăn từ máu.

Giun trưởng thành đẻ trứng vào phân, thải ra môi trường, sau đó trứng nở ấu trùng tiếp tục lại chu kỳ mới. Khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài: điều kiện phù hợp cho ấu trùng giun lươn phát triển ngoại cảnh là khí hậu nóng ẩm. Tuy nhiên, giun lươn có thể phát triển ở vùng ôn đới hoặc lạnh.


Các triệu chứng sau đây thường gặp nhất:
+ Các triệu chứng dạ dày ruột bao gồm đau bụng vùng thượng vị trên rốn và tiêu chảy.


+ Các triệu chứng ở phổi (bao gồm hội chứng Loeffler) có thể xảy ra khi ấu trùng filariform di chuyển trong phổi.


+ Các biểu hiện ngoài da bao gồm nổi mề đay ở vùng mông và thắt lưng.

+ Nhiễm giun lươn lan tỏa xảy ra ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch, biểu hiện bằng đau trướng bụng, shock, biến chứng phổi và thần kinh, nhiễm trùng huyết, có thể dẫn đến tử vong.

+ Tăng bạch cầu ái toan (eosinophils) thường hiện diện trong giai đoạn cấp và mạn tính, nhưng có thể không xảy ra ở thể bệnh lan tỏa.
 

Xét nghiệm tìm giun lương Strongyloides stercoralis chủ yếu trong phân hoặc dịch tá tràng. Cần xét nghiệm nhiều mẫu bệnh phẩm vì độ nhạy của xét nghiệm phân tương đối thấp.

- Có thể xét nghiệm phân tươi:

+ Trực tiếp
 

+ Sau khi đã cô đặc (bằng formalin-ethyl acetate)
 

+ Sau phục hồi ấu trùng bằng kỹ thuật phễu Baermann (Baermann funnel technique)
 

+ Sau khi cấy bằng kỹ thuật giấy lọc Harada-Mori
 

+ Sau khi cấy trên đĩa thạch agar
 

- Dịch tá tràng được xét nghiệm bằng kỹ thuật dùng dây  Enterotest hoặc hút dịch tá tràng.
 

- Ấu trùng có thể phát hiện thấy trong đàm của những bệnh nhân nhiễm giun lươn lan tỏa.
 

- Chỉ định các xét nghiệm strongyloides stercoralis khi nghi ngờ nhiễm giun lươn, nhưng không chứng minh được bằng các xét nghiệm hút dịch tá tràng, xét nghiệm dây đưa vào tá tràng (string tests), hoặc xét nghiệm phân liên tiếp nhiều lần.
 

- Xét nghiệm miễn dịch: nên dùng những kháng nguyên dẫn xuất từ ấu trùng filariform của Strongyloides stercoralis để đạt độ nhạy và độ chuyên biệt cao nhất.
 

- Mặc dù kỹ thuật kháng thể huỳnh quang gián tiếp (indirect fluorescent antibody = IFA) và các xét nghiệm kết dính hồng cầu gián tiếp (indirect hemagglutination = IHA) đã được sử dụng, hiện nay khuyên dùng thử nghiệm miễn dịch enzyme (enzyme immunoassay=EIA) do độ nhạy cao hơn (90%).
 

- Mặc dù có tình trạng suy giảm miễn dịch, thường vẫn tìm thấy các kháng thể IgG ở những bệnh nhân nhiễm giun lươn lan tỏa có miễn dịch suy yếu.
 

- Có thể gặp phản ứng chéo ở những bệnh nhân nhiễm giun chỉ và một số giun tròn khác.
 

- Các xét nghiệm kháng thể không được dùng để phân biệt giữa tình trạng nhiễm cũ và nhiễm mới.
 

- Kết quả dương tính sẽ biện minh cho các cố gắng trong việc chẩn đoán ký sinh trùng và điều trị giun.
 

- Chuẩn độ trong huyết thanh có thể hữu ích cho việc theo dõi hiệu quả điều trị ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch: lượng kháng thể giảm rõ rệt trong vòng 6 tháng sau khi đã điều trị thành công bằng hóa dược.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây